Cơ hội và tiềm năng phát triển của doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường khó khăn

Thị trường kinh tế thay đổi mỗi ngày, kèm theo đó là dịch Covid-19 bùng phát, nhiều doanh nghiệp rơi vào tình cảnh khó khăn và chưa tìm được lối thoát. Trong bối cảnh ấy, nhìn vào bức tranh tổng thể, ngoài những trở ngại, khó khăn doanh nghiệp có thể tìm được cơ hội và tiềm năng phát triển không ngờ tới.

Những câu chuyện thành công trong quá khứ của những cái tên huyền thoại

Từng chiếm tới 40% thị phần, chắc chắn cái tên Nokia không còn xa lạ gì trên thị trường điện thoại di động. Tuy nhiên, Nokia đã nhanh chóng mất tất cả và đến sát bờ vực phá sản. Cái tên Nokia thậm chí đã xuất hiện trong nhiều danh sách những thương hiệu lớn ra đi không dấu vết. Nhưng Nokia đang hồi sinh, vậy đâu là yếu tố quyết định để những doanh nghiệp từng ở bên bở vực như Nokia có thể đứng dậy trở lại thành công?

Nokia là trường hợp điển hình của một công ty rớt từ đỉnh cao xuống vực sâu. Năm 2007, công ty Phần Lan này chiếm lĩnh tới 40% thị phần máy điện thoại di động toàn cầu. Vốn hoá của công ty thời điểm đó là 153 tỉ đô la Mỹ. Tuy nhiên, mọi chuyện đã thay đổi 180 độ năm năm sau đó. Với sự nổi lên mạnh mẽ của Samsung và Apple, Nokia đánh mất thị phần, lâm vào khủng hoảng và chứng kiến vốn hoá “bốc hơi” 96%. Từ đế chế trăm tỉ đô, giá trị của Nokia đã giảm chỉ còn vỏn vẹn 6 tỉ đô la Mỹ năm 2012.

Cơ hội và tiềm năng phát triển của doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường khó khăn
Nokia là trường hợp điển hình của một công ty rớt từ đỉnh cao xuống vực sâu

Trong bối cảnh bị dồn vào chân tường, công ty Phần Lan làm điều mà họ vẫn thường làm trong suốt 150 năm lịch sử tồn tại của mình: thay đổi.

Từ buổi đầu thành lập, Nokia vốn không phải công ty sản xuất điện thoại, mà là một xưởng sản xuất giấy ở Phần Lan. Trong vòng năm năm qua, Nokia đã tự chuyển mình từ nhà sản xuất thiết bị di động đứng bên bờ vực phá sản, để trở thành một trong những nhà cung cấp thiết bị hạ tầng mạng hàng đầu thế giới.

Để thực hiện điều này, Nokia đã chấp nhận bán đi mảng điện thoại di động cho Microsoft vào tháng 9 năm 2013 và đặt cược lớn vào chiến lược xoay chuyển công ty. Sau khi rút lui khỏi lĩnh vực kinh doanh điện thoại di động, Nokia còn lại ba mảng: hạ tầng mạng, dịch vụ bản đồ và kinh doanh bản quyền.

Trong đó, Nokia đã lựa chọn hạ tầng mạng là hoạt động kinh doanh cốt lõi mới. Nokia mua lại phần sở hữu của Siemens trong liên doanh để toàn quyền quyết định lĩnh vực kinh doanh hạ tầng mạng. Sau đó, công ty tiếp tục mua lại Alcatel-Lucent vào năm 2015, với giá trị 16,6 tỉ đô la Mỹ, để trở thành nhà cung cấp đầy đủ toàn bộ dịch vụ hạ tầng mạng.

Để tập trung vào mảng kinh doanh cốt lõi mới, Nokia đồng thời bán đi mảng dịch vụ bản đồ cho các hãng xe ô tô Đức như Audi, BMW và Daimler. Ngoài ra, mảng kinh doanh bản quyền vẫn được công ty giữ lại do lợi nhuận biên tốt.

Tương tự như Nokia, Toyota cũng là một trong những cái tên đã hồi sinh sau khủng hoảng. Cuộc khủng hoảng nghiêm trọng vào năm 2010 được nhiều chuyên gia nhận định là “mồ chôn” của Toyota nhưng Công ty đã hồi sinh thành công.

Cơ hội và tiềm năng phát triển của doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường khó khăn
Toyota cũng là một trong những cái tên đã hồi sinh sau khủng hoảng

Từ vị trí nhà sản xuất ô tô hàng đầu thế giới, năm 2010 Toyota đã vướng vào cuộc khủng hoảng nghiêm trọng mà theo nhiều chuyên gia nhận định sẽ là “mồ chôn” của hãng xe hàng đầu khi đó.

Tuy nhiên, bằng thái độ chân thành, hành động đúng và thông điệp luôn được đưa ra kịp thời mà công ty này đã hồi sinh thành công.

Cuối năm 2009, Toyota vẫn còn là nhà sản xuất ô tô lớn nhất thế giới với triết lý lãnh đạo hoàn toàn khác biệt. Thế nhưng chỉ trong vòng vài tháng, công ty phải đối diện với cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất kể từ khi được thành lập và đứng trước nguy cơ phá sản.

Sự cố lỗi “tăng tốc ngoài ý muốn” khiến công ty phải thu hồi gần 8 triệu xe để sửa chữa, đình chỉ sản xuất một số dòng sản phẩm chủ lực. Ngoài ra, đại diện Toyota còn phải đối diện với những buổi điều trần trước Lưỡng viện Hoa Kỳ, Quốc hội Nhật và Liên minh châu Âu vì lỗi cố tình gian dối, giấu kín thông tin để tiếp tục bán xe mà không thực hiện các đợt thu hồi để sửa lỗi.

Quan trọng hơn, chính việc chậm trễ sửa lỗi đã dẫn đến cái chết của rất nhiều khách hàng đang sử dụng xe Toyota và là cú đánh mạnh vào thương hiệu luôn tự hào về chất lượng 5 sao đến từ Nhật Bản. Theo ước tính, đợt khủng hoảng lần này gây thiệt hại ít nhất 5 tỷ USD và 16% doanh số bán hàng của Toyota.

Việc đầu tiên mà Toyota làm là lập ra một nhóm quản lý các vấn đề khủng hoảng, bao gồm tất cả thành viên cấp cao nhất, đứng đầu là CEO, đóng vai trò như một đội phản ứng nhanh. Nhiệm vụ của nhóm này là nghiên cứu đánh giá rủi ro tác động đến thương hiệu và thông điệp để hướng tới việc phát triển kế hoạch phục hồi.

Toyota đã thực hiện đánh giá, nhận thức đầy đủ mức độ nghiệm trọng của vấn đề. Từ đó, nghiên cứu các tác động của vấn đề lên bản thân công ty Toyota, thương hiệu Toyota và các thương hiệu có liên quan như Lexus.

Song hành với đó là các cuộc thăm dò kết quả phản ứng của các đối tượng tiếp nhận trước mỗi động thái phản ứng từ công ty. Theo dõi xu hướng “nói về thương hiệu” của người dùng trên các phương tiện truyền thông, đặc biệt là mạng xã hội.

Họ cũng cố gắng kiểm soát thông tin, công bố thông tin và việc giao tiếp giữa các đối tượng chính trong cuộc khủng hoảng: nhân viên công ty, đối tác… Phát triển một kế hoạch truyền thông chi tiết làm đòn bẩy để giúp Toyota nêu bật lên những đặc tính ưu việt của thương hiệu. Đồng thời nhận diện những cơ hội để đưa ra thông điệp mới vào lúc thích hợp.

Cơ hội và tiềm năng phát triển của doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường khó khăn
Phát triển một kế hoạch truyền thông chi tiết làm đòn bẩy để nêu bật lên những đặc tính ưu việt của thương hiệu

Toyota cũng đặc biệt phát triển chiến lược mới nhằm xây dựng lại uy tín cho thương hiệu. Vì theo các cuộc đánh giá thái độ của người tiêu dùng và các bên liên quan thì bản thân Toyota nhận thấy, bản chất vấn đề nằm ở chỗ khách hàng cảm thấy “bị phản bội”. Không phải từng loại xe cụ thể, mà chính bản thân công ty Toyota là yếu tố gây xói mòn lòng tin của họ.

Tình hình thực tế mà doanh nghiệp đang gặp phải

Trong nhiều thập niên, những công ty tăng trưởng nhanh nhất phần lớn là những công ty đáp ứng nhu cầu của số đông. Các công ty ấy nỗ lực nghiên cứu một sản phẩm có khả năng thu hút nhiều người tiêu dùng nhất và sau đó tiếp thị sản phẩm một cách rộng rãi.

Thời đại công nghệ hiện nay, thị trường đã mở ra thêm một cơ hội mới để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Ngày càng nhiều người dùng hiện đại có thói quen mở điện thoại thông minh hoặc máy tính xách tay ra, bật internet lên và gõ tìm một sản phẩm họ mong muốn trên công cụ tìm kiếm trực tuyến. Thói quen này tạo ra cơ hội cho cả những công ty lớn và nhỏ có thể giới thiệu sản phẩm mới hoặc mở rộng danh mục bán hàng một cách dễ dàng.

Khi chọn định hướng cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho một thị trường ngách, thì lợi thế lớn nhất của doanh nghiệp chính là phần lớn khách hàng đã có sẵn ý định mua sắm trong đầu khi tìm kiếm sản phẩm phù hợp. Các doanh nghiệp cần hiểu rõ chuyện một người tìm kiếm một sản phẩm, dịch vụ trên internet tức là họ đã có sẵn ý định mua sắm trong đầu.

Cơ hội và tiềm năng phát triển của doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường khó khăn
Thời điểm khó khăn do dịch bệnh này, đa số các doanh nghiệp đều muốn giảm tải chi phí đầu tư

Trong tình hình dịch bệnh như hiện nay, các doanh nghiệp thời Covid-19 hiện tại phải đóng cửa không hẳn vì thiếu nguồn cầu, mà để kiểm soát dịch bệnh. Thời điểm khó khăn do dịch bệnh này, đa số các doanh nghiệp đều muốn giảm tải chi phí đầu tư, marketing, thu hẹp hoạt động bán hàng, thậm chí là tạm ngưng kinh doanh.

Ngay tại thời điểm tất cả các doanh nghiệp, đối thủ đều nghỉ ngơi, dưỡng sức, chờ đợi hết dịch mới bắt đầu khởi động công việc kinh doanh. Đây là thời điểm vàng để nắm bắt cơ hội kinh doanh, thậm chí vươn lên vị trí dẫn đầu thị trường cho những ai biết tận dụng thời cơ.

Philip Kotler cho rằng khi đến thời điểm phải cắt giảm, mảng tiếp thị dường như luôn bị “xử trảm” đầu tiên, và thứ hai là việc phát triển sản phẩm mới. Hành động như vậy luôn là một sai lầm vì nó phá hủy thị phần và sự đổi mới của công ty.

Trong tình huống, tất cả các nhu cầu mua sắm được chuyển sang đặt hàng trực tuyến. Các doanh nghiệp hãy tìm cách thích nghi và linh hoạt trong việc cung cấp dịch vụ, sản phẩm đến khách hàng. Đồng thời, hãy nỗ lực tìm cách tiếp cận họ qua những kênh tiếp thị trực tuyến.

Và để có thể thực hiện được những nền tẳng trực tuyến, xoay chuyển tình thế thì việc ứng dụng công nghệ thông tin một cách bài bản, đúng đắn sẽ là điều tiên quyết bắt buộc phải thực hiện.

Thay đổi để phát triển và chiếm lĩnh thị trường

Hiện nay nhiều doanh nghiệp vẫn chú trọng vào thị trường truyền thống và làm ăn bằng mối quan hệ của mình. Từ đó họ thờ ơ với thị trường oline và cũng chưa bao giờ họ nghĩ cần phải dừng đến thị trường này. Tuy nhiên, bối cảnh hiện tại khiến họ đang phải nghĩ lại, khi mà tất cả các hoạt động truyền thống đều đang ngưng trệ thì sự hiện diện trên online và các phương thức bán hàng trực tuyến lên ngôi.

Trong lúc này họ nhận thấy rằng việc thay đổi và áp dụng công nghệ thông tin để làm thương hiệu, chiếm lĩnh thị trường online là điều cực kỳ cần thiết. Trong thời điểm dịch bệnh bùng phát, các mối quan hệ và lối kinh doanh truyền thống không thể đáp ứng được, nếu không thay đổi doanh nghiệp sẽ dần bị đào thải và thế hệ mới sẽ lên ngôi.

Trong thời điểm dịch bệnh bùng phát, các mối quan hệ và lối kinh doanh truyền thống không thể đáp ứng

Có một sự thật không thể chối cãi đó là doanh nghiệp không nên xem nhẹ truyền thông, bởi có thể nói, trong thời đại của công nghệ, truyền thông là nhân tố hỗ trợ hữu hiệu giúp doanh nghiệp xây dựng thương hiệu, giải quyết sự cố, nắm bắt thông tin nhanh chóng và truyền tải thông điệp đến khách hàng.